Nhận định chính trị tổng quát: Tình hình thế giới và tương lai của đảng CSVN
     LS Đào Tăng Dực (facebook)
  
  
I. Kinh tế:

Liên Hiệp Âu Châu:
 
 
 
 

Hoa Kỳ:

Kinh tế tái phát triển sau nhiều năm suy thoái sau GFC vì giá địa ốc sụp đổ.
Sức mạnh kinh tế khôi phục của Hoa Kỳ căn cứ vào sự phục hồi sản xuất dầu hỏa từ fracking oil (dầu hỏa phiến thạch). HK từ một quốc gia nhập cảng dầu hỏa trở thành một net exporter of oil. Giá thành những hàng hóa sản xuất tại Hoa Kỳ giảm và kinh tế HK cạnh tranh hiệu năng hơn trên thế giới.

Trung Quốc:

Kinh tế phát triển giảm từ 10% mỗi năm còn khoản 7%. Kéo theo sự suy giảm kinh tế của Liên Hiệp Âu Châu, Úc và nhiều quốc gia xuất cản nguyên liệu khác như Nga Sô, Brasil, Nam Phi etc...
Kinh tế TQ có nhiều khuyết điểm cần điều chỉnh
 
  • Phát triển quá nhanh có thể nóng và đổ vỡ
  • Lệ thuộc quá nhiều vào xuất cảng
  • Các tỉnh duyên hải và nội địa phát triển không đồng đều
  • Các giai cấp giàu nghèo quá chênh lệch gây bất ổn xã hội
  • Nợ xấu cao
  • Môi trường tệ hại
Khuyết điểm lớn nhất là một hệ thống chính trị độc tài không thể đem lại ổn định chính trị lâu dài cho một quốc gia đa chủng tộc như Trung Quốc (Mông, Mãn, Hán, Hồi & Tạng).

Sự suy sụp đến mức khủng hoảng thị trường chứng khoáng tại Thượng Hải và Thâm Quyến làm mất đi hơn 3 ngàn tỷ US dollars cho thấy những khuyết điểm tiềm tang trong mô hình phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Nhật Bổn:

Kinh tế lớn thứ 4 thế giới. Sau Liên Hiệp Âu Châu, Hoa Kỳ và TQ. Sau nhiều thập niên suy thoái liên tục. Tái phát triển. Một tương quan vừa hổ tương vừa đối nghịch với TQ. 

Ấn Độ:

Đảng Quốc Đại thất cử sau nhiều thập niên nắm quyền. Bảo thủ. Theo thuyết kinh tế xã hội chủ nghĩa của thánh Gandhi. Xã hội căn cứ trên giai cấp truyền thống. Kinh tế trì trệ thua sau TQ. 5-7% phát triển so với 10% của TQ trong nhiều thập niên.

Đảng Janata Party thủ tướng Narendra Modi chủ trương kinh tế thị trường nhằm phát triển kinh tế cao hơn. Mục đích thay thế TQ trong đợt phát triển thứ 2 của thế giới. Tuy nhiên gặp khó khăn vì tính giai cấp và bảo thủ của Ấn Độ Giáo.

Nga Sô:

Sau nhiều thập niên phát triển mạnh nhờ giá dầu hỏa, hơi đốt và nguyên liệu cao. Dầu hỏa trên $100/thùng. Trữ lượng dầu hỏa của Nga chỉ sau Saudi Arabia.
Tuy nhiên với cuộc cách mạng dầu hỏa do kỹ thuật fracking của Hoa Kỳ, thế giới thặng dư dầu hỏa. Giá tụt xuống từ $120/thùng còn dưới $50. Ngân sách Nga khủng hoảng.
Cuộc chiến Nga/Ukraine. Nga chiếm đoạt Krimea và gây rối tại Đông Ukraine. HK và Liên Hiệp Âu Châu cấm vận. Kinh tế Nga suy thoái trầm trọng.
 
II. Chính trị:
 
Nguyên tắc căn bản:

Các quốc gia trên thế giới được thành lập trên căn bản hoặc thuần chủng hoặc đa chủng tộc. Tuy nhiên bất cứ mô hình quốc gia nào thì thể chế dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên cũng ổn định hơn thể chế độc tài. Nhất là khi một quốc gia thuộc dạng đa chủng. Trong trường hợp này thì ngoài thể chế dân chủ còn đòi hỏi yếu tố phân quyền hàng dọc, tức liên bang, thay vì đơn quyền, tức chỉ có chính quyền cấp quốc gia.

Đây là lý do tại sao các nền dân chủ Liên Bang như Hoa Kỳ, Canada, Vương Quốc Thống Nhất Anh, Đức, Ấn Độ bền vững hơn Liên Bang Xô Viết và trong tương lai sẽ bền vững hơn Trung Quốc và Liên Bang Nga.

Cả Trung Quốc và Liên Bang Nga là những đế chế không những đa chủng tộc mà còn đa tôn giáo. Hiện giờ đang tồn tại vì sử dụng phương pháp cai trị độc tài công an trị và quân đội. Thêm vào đó, muốn củng cố độc tài các lãnh tụ sử dụng 2 phương pháp chính hầu biện minh cho độc tài:
 
  • Tạo ra huyền thoại về những kẻ nội thù chống chế độ như đối lập hoặc các nhà tranh đấu cho dân chủ.
  • Tạo ra những kẻ thù bên ngoài như những cuộc chiến lân bang, giành đất, dân, tranh giành ảnh hưởng            quốc tế etc.. Nga Sô có Krimea, Đông Ukraine. Trung Quốc có Hoàng Sa, Trường Sa, Điếu Ngư etc...và        Hoa Kỳ như một đối thủ chiến lược.
 
Tuy nhiên các phương pháp này chỉ tạm thời. Tiến trình dân chủ hóa bất khả vãn hồi và trong tương lai gần đến trung hạn, Nga Sô và TQ sẽ phải chấp nhận một thể chế dân chủ mang tính liên bang như Hoa Kỳ, Canada etc... nếu muốn sống còn.

Riêng TQ thì khó tồn tại hơn, ngay cả như một thể chế liên bang, vì đã gây quá nhiều thù hận sâu đậm giữa các chủng tộc. Tây Tạng, Nội Mông và các sắc tộc Hồi Giáo sẽ nhất quyết ly khai với toàn bộ hoặc một phần lãnh thổ của họ. Trong 5 sắc tộc chính Mông, Mãn, Hán, Hồi và Tạng chỉ sẽ còn Mãn là trung thành với Hán tộc. Lý do duy nhất là vì Mãn Tộc đã quá suy đồi vì bị sát nhập vào Hán Tộc và chỉ còn là những thiểu số ít oi không đáng kể tại một vài tỉnh miền đông bắc TQ mà thôi.

Thế chiến lược: 

Chiến lược chuyển trục từ Trung Đông sang Đông Á của Hoa Kỳ hầu đối phó sự vươn lên không hòa bình của Trung Quốc.

Với sự độc lập mới về năng lượng, HK không còn nhận thấy Trung Đông có tầm mức quan trọng như trong quá khứ. Thêm vào đó, vấn nạn Trung Đông phức tạp và đa chiều, một mình HK không thể giải quyết.

Trong khi đó, Á Châu nói chung (gồm Ấn Độ tức Nam Á và Viễn Đông tức Trung Quốc Nhật bổn, Hàn Quốc. Việt Nam, Nam Dương etc..) trở nên quan trọng vì tầm vóc kinh tế ngày càng phát triển.

Biển Đông là một đường hàng hải quan trọng.

TQ chủ trương đường lưỡi bò và chiếm các đảo quan trọng tại Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời xây cất những căn cứ quân sự quan trọng, hầu kiểm soát 80% Biển Đông.

Vì đây là lộ giao thông hàng hải quan trọng bất nhất, Hoa Kỳ liên kết với Nhật Bổn, Nam Hàn, Úc, Ấn Độ tạo thành một liên minh chiến lược đối đầu TQ.

Sự kiểm soát Biển Đông của TQ có hệ lụy là bao vây chiến lược và kinh tế Việt Nam từ các căn cứ trên Hoàng Sa và Trường Sa. Ngược lại, Các căn cứ quân sự từ các miền duyên hải VN cũng có tiềm năng phá vỡ thế chiến lược của TQ.

Vì thế vô hình trung, Hoa Kỳ trở thành đồng minh chiến lược của VN và ngược lại.

Trong nội bộ đảng CSVN, phe nghiên về HK, vốn nằm tại hạ tầng, bây giờ đang củng cố thế lực. Chuyến Mỹ du của TBT Nguyễn Phú Trọng vốn thân TQ, bây giờ lại tuyên bố những điều ngược lại chủ trương thân Trung Quốc chứng tỏ chính Nguyễn Phú Trọng cũng cảm thấy có nhu cầu đa diện hóa phe nhóm của mình, để sống còn trong chính trị nội bộ.

Sự “biến mất” của Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh, một rường cột của phe thân Trung Quốc, chứng tỏ một sự chuyển mình quan trọng trong sách lược ngoại giao của CSVN.

Có thể nói rằng, câu châm ngôn thông thường chúng ta nghe là CSVN “Đi với Mỹ thì mất đảng và đi với Trung Quốc thì mất nước” cần phải điều chỉnh lại cho đúng hơn. Đó là: “Đi với Mỹ thì mất đảng và đi với Trung Quốc thì mất cả đảng lẫn nước”. Lý do là vì, với làng sóng internet, cuộc cách mạng tin học và bước đi bất khả vãn hồi của quan điểm dân chủ hiến định, pháp tri và đa nguyên, thì ngay cả quan thầy của CSVN tức CSTQ sẽ còn phải cáo chung, huống hồ là CSVN.

Chính vì thế, nếu Nguyễn Phú Trọng có ảo tưởng là lần này, theo Mỹ thì Mỹ sẽ bảo đảm không mất đảng, thì Nguyễn Phú Trọng thật lầm to. Tiến trình dân chủ hóa bất khả vãn hồi và như Bà Hillary Clinton đã tuyên bố, các lãnh tụ cộng sản chỉ “chạy loanh quanh như những thằng khùng” (running a fool’s errand) nhưng sẽ không trì hoãn được.

Dĩ nhiên Trung Quốc không happy về chuyến Mỹ du của Nguyễn Phú Trọng và ngoài những trả đũa bằng miệng trên báo chí Trung Quốc, còn xúi dục đàn em Khmer của họ, quấy phá biên thùy phía tây nam của Việt Nam.

Chính sách tấn công kinh tế của Trung Quốc:

Quân sự không phải là sự vươn lên duy nhất của TQ. Kinh tế cũng giữ một vai trò quan trọng.
Hai chiến lược kinh tế mới nhất là:
 
  • Vận động để đồng Yuan (Nhân dân tệ) được công nhận như một trong những ngoại tệ chính trong Special Drawing      Right Basket (SDR) của International Monetary Fund (IMF) ngang hàng với Đô La Mỹ, đồng Yen, Bảng Anh và Euro.    Đây là những đồng bạc quyết định trị giá của tiền dự trữ của IMF.
  • TQ đang vận động thành lập Ngân Hàng Đầu Tư Hạ Tầng Cơ Sở Á Châu (Asian Infrastructure Investment      Bank) (AIIB) với số vốn sơ khởi $50 tỷ Mỹ Kim. Góp vốn sẽ tùy thuộc vào GDP của mỗi quốc gia. TQ sẽ là      quốc gia có nhiều ảnh hưởng nhất vì GDP cao nhất. Hoa Kỳ đã vận động cho Nhật Bổn, Úc không tham gia.
 
Tuy nhiên Anh, Pháp,Đức và Ý đã bày tỏ ý định tham gia.
 
Tòa Án Hòa Giải Thường Trực LHQ:

Trong khi đó, Phi Luật Tân đã đưa TQ ra tòa về đường lưỡi bò tại Biển Đông và những vi phạm lãnh thổ và lãnh hải Phi. CSVN đã hèn nhát không dám cùng khiếu kiện TQ.

TQ đã không chính thức đối đơn.

Tuy nhiên Tòa vẫn xúc tiến và TQ có ra một position paper tương đương với một bản minh định lập trường trước hết bác bỏ thẩm quyền của tòa và không chấp nhận Đường Lưỡi Bò vi phạm UN Convention on the Law of the Sea (UNCLOS). Tuy nhiên position paper này không phải là một đơn đệ trình tòa án.
Trong khi đó, Phi Luật Tân đã hoàn tất đơn từ kể cả một submission dày 3000 trang. Dự tính Tòa sẽ nghe tranh cãi bằng đối thoại khoảng tháng 7 năm nay và sẽ hoàn tất phán quyết khoảng tháng Ba năm 2016. 

  
III. Ảnh hưởng trên Việt Nam:
 
Trong bối cảnh chiến lược Đông Á cũng như chính trị toàn cầu, quyền lợi dân tộc Việt Nam rõ ràng nằm nơi một chế độ dân chủ hiến định pháp trị và đa nguyên (trên phương diện chính trị đối nội) và một sự liên kết chính trị, quân sự và kinh tế với Hoa Kỳ và các nước dân chủ (trên phương diện đối ngoại).

Tuy nhiên hệ luận của các điều trên là sự giải thể độc tài. Đây là điều đảng CSVN không chấp nhận toàn diện. Sau chuyến Mỹ du nêu trên, CSVN sẽ tiến đến một sự liên kết giới hạn với Hoa Kỳ và các nước tây phương, chấp nhận một vài điều kiện như cho phép các nghiệp đoàn độc lập để được vào TPP hoặc cải thiện giới hạn xã hội dân sự, nhưng sẽ không cải tổ chính trị sâu rộng.

Lý do CSVN tiến gần với Hoa Kỳ lần này vì đảng CSTQ chưa bao giờ coi CSVN là một đồng minh thực sự. Chỉ coi CSVN là một đàn em trung kiên và dễ sai bảo. Áp lực này quá lớn và nhiều thành phần trong đảng khó chấp nhận.

CSTQ bất cứ lúc nào cũng vì quyền lợi của chính mình hy sinh đàn em CSVN.

CSVN phải đối đầu với các trở lực sau đây:
 
  • Một xã hội dân sự ngày càng phát triển với những thành phần đối kháng ngày càng không biết sợ cường quyền.
  • Một khối người Việt hải ngoại luôn nuôi dưỡng những mầm móng dân chủ đa nguyên.
  • Một mạng lưới toàn cầu xuyên thủng mọi bưng bít thông tin của độc tài đảng trị.
  • Những tổ chức đấu tranh chính trị đối nghịch ngày càng chuyên nghiệp hơn.
  • Nội bô đảng chia rẽ vì xung đột quyền lợi, thế hệ và tư tưởng.
  • Áp lực địa chính trị từ Hoa Kỳ và các nước tây phương.
     
Cũng vì những áp lực như thế, nguy cơ đảng CSVN suy sụp và bị hủy diệt có thể xảy ra nếu không có những biện pháp giảm áp lực nhưng chuyến Mỹ du vừa qua.

Một câu hỏi nêu ra là liệu đảng CSVN có thể chuyển mình trở thành một đảng mang tính Dân Chủ Xã Hội như đảng Xã Hội Pháp hoặc đảng Lao Động của Anh hoặc Úc, sinh hoạt trong một môi trường dân chủ đa nguyên, ly khai toàn diện học thuyết Mác Lê. Một sự chuyển hóa như thế đòi hỏi một sự khai trừ khỏi đảng những thành phần giáo điều như Nguyễn Phú Trọng, Trần Đại Quang, Phùng Quang Thanh, Phan Quang Nghị và Đinh Thế Huynh. Với một thế hệ trẻ hơn trong nội bộ đảng sẽ vươn lên loại trừ những phe nhóm giáo điều?

Những chỉ dẫn cho thấy điều này rất khó xẩy ra vì phe bảo thủ quá hùng mạnh trong nội bộ đảng và các “chiến lược gia” nằm trong bóng tối của phe này “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”. Hậu quả là đảng CSVN sẽ bị đào thải vì không thích ứng với môi trường chính trị mới.
  
LS Đào Tăng Dực   
 
 
Kinh tế trì trệ nhiều thập niên. Nạn thất nghiệp rất cao từ 10% đến 25%. Euro zone gặp khủng hoảng. Nguy cơ phải quịt nợ và rời khỏi Euro zone của Hy Lạp tuy đã qua nhưng kinh tế Âu Châu chưa ổn định.