Chỉ một năm sau, Minh được thăng cấp Trung Sĩ và tôi gửi Minh đi học khóa Truyền Tin đặc biệt về mật mã, sau khóa học Minh trở về đơn vị, được thăng cấp Trung Sĩ Nhất và đuợc tôi bổ nhiệm chức vụ Trưởng Ban Truyền Tin của Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù. Trong nhiệm vụ này, Minh lúc nào cũng thường kề cận sát bên cạnh tôi như hình với bóng, và theo thời gian binh lửa ngút ngàn, dần… dần tôi thương mến Minh như em ruột của mình…!
 
Minh còn độc thân, chỉ có một mẹ già và một đứa em gái nhỏ đang buôn bán tảo tần ở chợ Trương Minh Giảng. Minh rất giàu đầu óc sáng tạo, tự “chế tác” ra những mật mã Truyền Tin nguỵ hoá để xử dụng hiệu quả mà ngay Nha Kỹ Thuật cũng không mã hoá được, huống hồ mấy tên cán ngố “sinh Bắc tử Nam” có thể phát hiện được qua âm thoại trên tầng sóng điện máy truyền tin … Đụng trận, Minh hét lên trong máy báo cáo liên lạc: “… ba lẻ tám bẩy không chín tám mười hai ba ba ba…” (giải mật mã là: 2 toán viển thám: 1 và 2 xuống chân đồi, 2 trung đội trinh sát theo sau và tấn công bộc hậu lên đồi).
Sau hai ngày “san định” đồi 1049 (Delta), một Đại Đội của Tiểu Đoàn 2 Nhẩy Dù (ĐĐ/TĐ2ND) thay thế Trinh Sát 2 Nhẩy Dù (TS2ND), chúng tôi có lệnh di chuyên về hường Bắc để bắt tay với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2 Nhẩy Dù (BCH/TĐ2ND) đang ở đồi Charlie. Chúng tôi vừa “di hành” vừa nhổ “đẹp” chốt địch và tống tiễn hồn Bắc quân khiếp đảm, kinh hoàng bay tung về với thế giới cô hồn uổng tử…! Nhưng khi đến đồi 1028 (cao độ so với mặt nước biển) thì “đụng nặng”. với một trung đội súng nặng của Trung Đoàn 33 thuộc Sư Đoàn 320 CSBV trú phòng trên đó với ưu thế hầm hố, địa đạo chiến đấu đã bố trí vững chắc, sẵn sàng chờ đợi để “gom bi” TS2ND chúng tôi…với “Thế Bối Thủy”, tiến thoái lưỡng nan, chỉ còn xông lên vượt đường máu lửa để sống còn, tôi ra lệnh “táp pi”…súng nổ vang rền chiến trận… Minh bị một tràng AK47 xé banh lồng ngực chết tại chỗ, máu tuôn ướt đẫm thân xác…!.
 
Tôi mệt lã chập chờn trong giấc ngũ dật dờ, bàn tay trái vẫn còn trên cái poncho bó xác của Minh lạnh giá, chợt tai nghe tiếng nói của Minh từ một cõi âm ty thâm u xa xăm nào đó mang âm hưởng tỉ tê não nuột rờn rợn ớn lạnh toàn thân…!
 
– Đại Úy ơi…! Mở ba lô của em ra, lấy cái poncholight của em mà đắp và giữ nó bên mình. Mở cái poncho của em ra lấy cái thẻ bài gửi cho Mẹ em và con Nguyệt (em gái của Minh), còn sợi dây chuyền có cái thẻ ngà bằng nanh heo rừng Đại Úy hãy mang vào cổ đừng bao giờ rời nó….”…!
Tôi choàng tỉnh ngồi bật dậy. Trời hãy còn tối đen như mực, chỉ nghe tiếng xào xạc của lá cây rừng cùng tiếng văng vẳng đâu đây của Minh như chưa tan loãng hết trong không gian u uất linh hồn phất phơ đầu cây ngọn cỏ còn ướt đẫm sương đêm…! Nhìn quanh bên cạnh vài thước, Y Khương vẫn còn ghìm súng trong phiên gác nửa đêm về sáng…Tôi tự lự: có thật linh hồn của Minh vẫn còn lẫn khuất quanh đây, em về báo mộng cho tôi, hay chỉ là hư ảo qua tình cảm tiếc thương đứa em cận kề thâm tình bấy lâu nay mà sinh chuyện mộng mị giữa đời thường, trong khi áp lực địch quân trùng điệp với lưới thép lửa đạn dầy dặc vẫn còn vây kín tứ phương …và cho dù có tin hay không tin cũng phải chờ cho đến khi trời sáng có L19 (phi cơ quan sát) bao vùng và mong là sẽ có C&C của Lữ Đoàn bay trên không phận để liên lạc với tôi…!
 
Tôi làm theo lời báo mộng của Minh, thò tay lục ba lô và mở poncho gói xác Minh… quả thật đúng như vậy và tôi làm đúng những gì Minh căn dặn là tìm thấy được: một pocholight, sợi dây chuyền có cái nanh heo rừng khắc Phạn Ngữ Chú Nguyện theo phương pháp bùa Miên mà các vị “Lục Khủ” (Thầy) phúc tụng, tom phép hộ thân vào Katha… Suốt ngày hôm đó trực thăng của Phi Đoàn 229 không tiếp tế, tản thương được, đến buổi chiều chỉ có chiếc LOH của John Paul Van rà xuống đạp vội vài thùng lựu đạn, đạn đại liên và vài chục ống đạn 155 ly chứa nước uống. Hơn hai mươi thương binh và 12 xác chết vẫn còn nguyên đó…!
Tôi nhận được công điên từ hậu cứ Long Bình của Trung Úy Tài nguyên văn:” Kính đích thân ! Sáng nay mẹ và em gái của TSN Nguyễn Văn Minh có đến văn phòng hậu cứ khóc lóc thảm thiết và chất vấn tôi về tình trạng Minh đã tử trận. Tôi quá đổi ngạc nhiên vì chưa nhận được một báo cáo hành quân nào cả. Chỉ biết là đơn vị đang đụng nặng và chờ tin tức mà thôi. Tôi hỏi thì bà trả lời rằng: “… thằng Minh đã chết và đã có về báo mộng cho tôi đêm qua …”…?!!! Đọc công điện từ hậu cứ, tôi giao động thân tâm thẩn thờ như kẻ mất hồn…! Đã có báo cáo tổn thất tổng quát cho Lữ Đoàn nhưng chưa có chi tiết tên họ tử sĩ và thương binh, vì người thay thế cho Minh phụ trách công điện chưa thành thạo công việc truyền tin liên lạc báo cáo… vả lại TS2ND chúng tôi còn trong vòng chiến trận bị Bắc quân vây hãm với hoả lực hùng hậu tứ bề thọ địch…!!!
 
Để độc giả có thể hình dung được bối cảnh lâm trận của TS2ND và tương quan lực lượng với địch quân trên Mặt Trận Tây Nguyên – Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 , tôi xin trích dẫn đoạn văn của Tác Giả Vương Hồng Anh là Nhà Văn Quân Đội đã dầy công biên soạn Quân Sử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, đã có đề cập đến Đơn Vị TS2ND trong trận thư hùng khốc liệt với Bắc quân: “Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù Tử Chiến Tại Vùng Đồi Delta, Charlie”:
Trận chiến giữa Trinh sát 2 Nhảy Dù và Cộng Quân ở đồi Delta:
 
Đồi Delta là một ngọn đồi nằm về hướng Nam Charlie, quanh khu vực này Cộng quân đã bố trí 1 tiểu đoàn phòng không được bảo vệ bởi các cụm chốt do 1 đơn vị sư đoàn 320 CSBV phụ trách. Để giải tỏa áp lực của CQ, đại tá Trần Quốc Lịch-lữ đoàn trưởng lữ đoàn 2 Nhảy Dù đã cho lệnh đại đội 2 Trinh Sát do trung úy Trương Văn Út chỉ huy đổ quân ngay trên đầu địch. Cuộc đột kích diễn ra vào rạng sáng ngày 17 tháng 3/1972 bằng trực thăng vận.
Sau khi Pháo binh và Không quân hỏa tập để dọn bãi đáp, đoàn trực thăng đổ đại đội Trinh Sát vào đỉnh đồi. Vừa nhảy xuống mục tiêu, toàn đại đội tràn lên tấn công. Bị tấn kích bất ngờ, cụm tiền đồn của CQ không kịp phản ứng, đã bị triệt hạ. Nguyên cả toán tiền đồn của tiểu đoàn 1/trung đoàn 3/sư đoàn 320 CSBV bị bắt sống. Tuy nhiên, ngày hôm sau, Cộng quân đã điều động 1 tiểu đoàn để bao vây đại đội Trinh Sát.
 
Dù bị áp đảo về quân số, nhưng trung úy Út (ám danh dùng để liên lạc qua máy truyền tin là Út Bạch Lan) đã linh động tìm cách thức đánh trả. Út Bạch Lan cho phân tán đại đội và lưu động tác xạ để đánh lạc hướng phán đoán của đối phương. Cộng quân tràn lên xung phong nhưng chỉ gặp từng toán nhỏ, các toán này đã nhanh nhẹn lẫn tránh sau khi đã bấm mìm claymore. Địch quân lại tiếp tục bao vây, không ngờ rằng đại đội Trinh sát 2 đã vòng ra phía sau tấn công ngay vào bộ chỉ huy tiểu đoàn Cộng quân và bắt trọn cả bộ phận này, trong đó có cả tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1/ trung đoàn 3 CSBV là Trương Hà.
 
Bị tổn thất nặng, ngay sau đó, trung đoàn 3 CSBV điều động toàn bộ lực lượng bao vây đồi Delta với quyết tâm triệt hạ đại đội Trinh Sát 2 để trả thù cho tiểu đoàn 1 của trung đoàn này. Vào lúc này, đại đội Trinh sát cũng đã mệt mỏi do phải lưu động để tránh địch. Bị một trung đoàn CQ bao vây, mặc dù đã áp dụng chiến thuật phân tán mỏng để cố thủ nhưng do đạn dược và lương thực gần cạn, nên đại đội Trinh sát 2 ở trong tình trạng nguy kịch. Nhận được khẩn báo của Út Bạch Lan, các phi công VN của phi đoàn trực thăng Bạch Tượng đã dũng cảm bay vào vùng đồi Delta nhưng không thể nào tiếp tế được cho đại đội Trinh sát 2 Nhảy Dù. Cuối cùng, nhờ một phi công kinh nghiệm và gan lì của phi đoàn Song Chùy đã điều khiển trực thăng lách qua các ổ phòng không của địch mới tiếp tế cho đại đội này được một chuyến duy nhất.
* Tiểu đoàn 2 Nhảy Dù nhập trận:
 
Ngày 20 tháng 3/1972, bộ chỉ huy lữ đoàn 2 Nhảy Dù đã điều động tiểu đoàn 2 Nhảy Dù từ căn cứ Charlie đến giải vây cho đại đội Trinh sát 2. Ngay khi vào khu vực hành quân, thiếu tá Lê Văn Mạnh-tiểu đoàn trưởng đã điều động 4 đại đội tác chiến của tiểu đoàn tấn công ngang hông. Trận chiến đã diễn ra khốc liệt, sau 3 ngày kịch chiến, từ ngoài đánh vào, từ trong tấn công ra, tiểu đoàn 2 Nhảy Dù và đại đội Trinh sát 2 đã đánh bại trung đoàn 3 CSBV, “xé” trung đoàn này thành từng phần nhỏ. Sau đó, đại đội Trinh sát 2 được trực thăng bốc về Võ Định để tái chỉnh trang và bổ sung quân số.
 
Được báo tin về chiến thắng của đại đội Trinh Sát 2 Nhảy Dù, trung tướng Ngô Du đã bay đến nơi quan sát, vị tư lệnh Quân đoàn 2 đã đích thân gắn cấp bậc đại úy cùng Đệ ngũ đẳng Bảo quốc Huân chương cho đại đội trưởng Trương Văn Út. Ngoài ra, đại tá Lê Đức Đạt-tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh đã thưởng cho đại đội này 1 triệu 200 ngàn đồng về chiến tích bắt sống 12 tù binh của sư đoàn 320 CSBV”.
Và trích dẫn bài viết “Charlie Ngọn Đồi Quyết Tử” của Nhà Văn Quân Đội Mũ Đỏ Nguyễn Văn Lập , đăng trên báo Chiến Sĩ Cộng Hoà số 2, xuất bản tháng 8 năm 2009 do Hệ Thống Báo SàiGònNhỏ phát hành:
“Từ ngày này trở về sau, toàn bộ Charlie bị pháo kích thật nặng, mổi ngày cở ngàn quả mà nhiều nhất là 130 ly, rồi đến đại bác 122 ly, và cả hỏa tiển 122 ly mà tôi nghe được tiếng hú. 310 báo lên Thiếu Tá Lạc tụi tôi bị ăn 130 ly, ngoài tầm không phản pháo được, chẳng lẽ phải nằm đây lãnh pháo? Lúc này Đại Tá Trần Quốc Lịch, Lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn II Dù ở Căn cứ Võ Định cũng đã trình lên cấp trên xin cho 11 Dù rút ra ngoài căn cứ, Nhảy Dù mà nằm đưa đầu ra lãnh pháo như thế này thì phản chiến thuật quá. Nhưng Trung Tướng Ngô Du, Tư Lệnh Quân Đoàn II vẫn lặng thinh, và Cố Vấn John Paul Van chẳng biết mẹ gì chiến thuật và pháo binh, vẫn kiên trì áp lực…tử thủ, chắc là định dùng 11 Dù nhử cho địch lên tapi như trường hợp của Đại Đội 2 Trinh Sát Dù dưới sự chỉ huy của Đại Uý Trương Văn Út (danh hiệu truyền tin Út Bạch Lan) đã được trực thăng vận nhẩy xuống trấn thủ ngọn đồi 1069 ở Mặt Trận Tây Nguyên 1972. Nhận biết được tin quân Việt Cộng sẽ cường tập tấn công ngay trong đêm để tận diệt TS2ND , viên cố vấn Mỹ của Đại Đội là Trung Uý Buda đã gọi liên lạc xin với Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn 2 Mr Paul Van và Tướng Ngô Du Tư Lệnh Quân Đoàn II xử dụng toàn bộ hoả lực phi pháo, hải pháo Việt – Mỹ để yểm trợ cho TS2ND dứt điểm giết chết cả Trung Đoàn Phòng Không thuộc Sư Đoàn Thép 320 lừng danh của Bắc Việt, cộng quân phơi xác vương vãi khắp cả ngọn đồi 1069…! Với chiến thắng lẩy lừng Quân Sử nầy Tướng Ngô Du đã đặc tên cho đồi 1069 là “Đồi Út Bạch Lan” …!!! Và vì trận này mà Bộ Chỉ Huy Quân Sự Việt Cộng đã lên án tử hình Đại Úy Trương Văn Út, Đại đội trưởng Trinh Sát 2 Dù và thề tiêu diệt đại đội này.
Quân đoàn II còn lệnh cho TĐ11 ND ra hố pháo tìm chứng tích của đầu nổ130 ly mới cho B52 dập. Quân đoàn cũng chẳng màng gần một phần ba quân số 11 Dù bị loại ra ngoài vòng chiến vì đạn pháo và chưa đươc di tản. Cái hào quang chiến thắng của thượng cấp ngoài binh chủng đo bằng máu của Dù thật quá đắt, và quả thật nếu không bị pháo kích từng phút một, chúng tôi có thể ra hố đạn đo hướng bắn và bới tìm đầu nổ, nhưng làm sao gửi ra cho các bộ óc đặc sệt chỉ thị đây.
Hằng trăm thương binh, mấy chục binh sĩ tử thương vì pháo còn chưa di tản được nằm đầy các giao thông hào, không có chiếc trực thăng tản thương nào vào được cách C2 500 mét thì nói gì đáp xuống tải thương hoặc tiếp tế. Chỉ có một pass B52 đánh về hướng Nam gần Charlie thì nhằm nhò gì, pháo của chúng đặt về hướng Tây và Tây Bắc cách Charlie ít nhất 15 đến 20 cây số thì không dập. Mổi lần bị pháo kích xong, phi cơ lên vùng, pháo địch im, phi cơ bay ra khỏi vùng, lại bị pháo tiếp, tôi chỉ còn biết ước lượng vị trí pháo địch gửi về các pháo đội tùy nghi phản pháo nếu có thể. Tình hình hết sức khẩn trương, nếu không có lệnh rút, chắn chết hết vì pháo”.   
     
…Tiếp theo chuyện của Minh: Tôi hỏi Sơn Nhung, Hạ Sĩ Nhất người Miên bên cạnh tôi với Minh về sợi dây chuyền và cái nanh heo rừng. Sơn Nhung nói :
– Thưa Đại Úy đây là cái thẻ “Bùa Miên”. Trên cái thẻ ngà màu trắng đục có khắc một hàng chữ Miên màu đỏ, nó là câu thần chú để khi gặp cơn nguy biến thì đọc lên…may ra có ứng nghiệm…em không hiểu câu thần chú là gì, nhưng Đại Úy có thể đọc khi hữu sự ” Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát “. Thằng Minh nó sống khôn chết thiêng, nó đang phù trợ cho Đại Úy đó “…!
 
Tôi không biết có nên tin hay không…? Nhưng thuở còn học trung học, tôi thích nhất môn hình học không gian, trong đó có chiều thứ ba, ngoài không gian và thời gian. Sau này khi ra hải ngoại đọc bộ sách của Giáo Sư Linh Mục Lương Kim Định mới hiểu chút chút ngôn từ “Chiều Kích Tâm Linh”. Giờ nhớ lại mới thấy thấm thía…