NHẬN ĐỊNH: Ngày Giỗ Đức Hưng Đạo Đại Vương, các Đức Lê Lai và Lê Lợi
Ls. Đào Tăng Dực
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
Một trong những trọng tội của chế độ CSVN là bóp méo lịch sử và phớt lờ những giai đoạn lịch sử oai hùng của dân tộc, khi toàn dân vùng lên, đập tan những đoàn quân xâm lược của bá quyền Trung Quốc, từ nhà Nguyên Mông của Thành Cát Tư Hãn đến Minh Triều của Chu Nguyên Chương.

Làm như thế đảng CSVN rắp tâm tuân phục câu thần chú của đảng CSN Trung Quốc ban phát. Đó là câu đại thần chú: “4 Tốt và 16 chữ vàng” mà TBT Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Tuyên Giáo TU Đinh Thế Huynh và Bộ Trưởng Quốc Phòng Đại Tướng Phùng Quang Thanh ngày đêm tụng niệm, hầu nhớ ơn mưa móc của thiên triều.
  
Xin chia xẻ cùng cộng đồng facebook bài diễn văn và lời khấn nguyện trước bàn thờ tổ của Ban Tổ chức Tập Hợp Đồng Tâm.
 
Ý NGHĨA 3 NGÀY LỄ GIỖ 

Kính thưa quý vị hiện diện trong buổi lễ hôm nay,
Trong một trùng hợp hiếm có trong lịch sử Việt Nam, tháng 8 Âm lịch có 3 ngày giỗ liền kề nhau để tưởng nhớ đến ba vị anh hùng dân tộc. Đó là ngày 20/8, đức Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn từ trần và kế đó là "21 Lê Lai, 22 Lê Lợi". 

Suốt mấy trăm năm qua, dưới bất cứ triều đại nào, trừ triều đại cộng sản hiện nay, ba ngày này đều được xem là lễ lớn của dân tộc. Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, đây là 3 ngày quốc lễ vinh danh các bậc tiền nhân của hai triều đại đã đổ biết bao xương máu để gìn giữ mảnh giang sơn gấm vóc Đại Việt trong những giờ phút nguy nan nhất của đất nước. Đó là triều Trần mà biểu tượng là đức Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, và triều Hậu Lê mả đức Bình Định Vương Lê Lợi đã khai sáng sau khi đánh đuổi giặc Minh. 

Cả hai triều đại và các vị anh hùng đó tuy sống cách nhau 200 trăm năm, nhưng đều là linh hồn của các cuộc kháng chiến chống giặc phương Bắc để duy trì nền tự chủ hay giành lại nền độc lập cho nước Việt. Hai triều đại này đã tô đậm thêm những trang sử hào hùng của giống dân Tiên Rồng, với 3 lần chiến thắng quân Mông Cổ dưới sự lãnh đạo của đức Hưng Đạo Đại Vương vào thế kỷ 13, và 10 năm kháng chiến chống quân Minh của đức Lê Lợi vào thế kỷ 15.
Chính vì thế trong ba ngày quốc lễ này, người dân Việt không chỉ tưởng niệm đức Hưng Đạo Vương, đức Lê Lai hay đức Lê Lợi mà còn là tưởng niệm toàn bộ quân dân Đại Việt đã nằm xuống trong các cuộc chiến giữ nước vô cùng gian khổ đó. 
Trước khí thế hung mãnh của một đạo quân Mông Cổ đã san bằng thành bình địa nhiều quốc gia Âu – Á, triều đình Đại Việt dưới thời nhà Trần đã may mắn có được một guồng máy ổn định, với "vua quan đều đồng lòng, quân dân đều quyết tử", thể hiện qua hai hội nghị Bình Than và Diên Hồng, dẫn đến 3 lần đánh bại quân Nguyên.

Trong khi đó thì nghĩa quân Lam Sơn của đức Lê Lợi không có được cái may mắn của triều Trần vì đất nước Đại Việt khi ấy đã nằm dưới gót giày của quân Minh và nhiều phong trào kháng chiến của các tôn thất nhà Trần lần lượt bị tan rã. Bình Định Vương Lê Lợi cũng 3 lần thất bại khi phất cờ khởi nghĩa, và trong một lần bị quân Minh vây khốn, đức Lê Lai đã chấp nhận mưu kế "thay mận đổi đào", hy sinh tính mạng của mình để đức Lê Lợi có cơ hội thoát khỏi vòng vây. 

Thế nhưng không chỉ có đức Lê Lai hy sinh tính mạng trong giờ phút sinh tử đó. Lịch sử ghi rõ, cùng với Lê Lai là hàng trăm nghĩa sĩ đã dẫn dụ chủ lực quân Minh kéo đến bao vây, mở ra một con đường thoát thân cho toán quân còn lại của đức Lê Lợi. Chính vì thế, tưởng niệm đức Lê Lai cũng chính là tưởng niệm những liệt sĩ vô danh đã chấp nhận hy sinh để nghĩa quân Lam Sơn vẫn còn người lãnh đạo và phong trào kháng chiến chống Minh vẫn được tiếp tục. Điều đáng trân trọng là đức Lê Lợi sau khi lên ngôi vẫn nhớ đến cái chết oai hùng của đức Lê Lai. Ngài căn dặn con cháu: "Sau khi ta chết, mỗi khi cúng giỗ thì nhớ làm giỗ Lê Lai trước một ngày".
 
Và đó chính là nguyên nhân có hai ngày giỗ liền kề nhau: "21 Lê Lai, 22 Lê Lợi", thay vì ngày giỗ phải là ngày đức Lê Lai tử trận dưới chân núi Chí Linh.

Lịch sử Việt cũng ghi nhận hàng loạt khí phách hào hùng như thế của quân dân Đại Việt trong các cuộc chiến đẫm máu đó. Và tên tuổi của họ đã thành những tượng đài bất diệt trong lòng dân tộc. Họ không chỉ là các tôn thất nhà Trần như Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản, Trần Quang Khải hay Trần Khánh Dư.... mà còn là những người xuất thân dân dã như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng... và 200 năm sau đó là một loạt các danh thần võ tướng như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo... 

Thế nhưng điều đáng buồn là trong bối cảnh đế quốc Hán Cộng đang trỗi dậy, rất nhiều người Việt đã thiếu tự tin về sức mạnh của dân tộc trước khí thế hung hăng và hiếu chiến của lũ giặc Bắc phương. Họ đã quên là triều đình nhà Nguyên khi tràn xuống phía nam cũng ngạo mạn cho rằng sự kháng cự của quân dân Đại Việt sẽ chỉ là "châu chấu đá xe". Kết quả là hàng chục vạn quân Mông Cổ bách chiến bách thắng đã chết thê thảm dưới chân các con "châu chấu" của đức Trần Hưng Đạo. Và hai thế kỷ sau đó, đến phiên đạo binh hùng tướng mạnh của triều Minh, vô cùng ngạo mạn sau khi diệt được nhà Nguyên, lại lần lượt ngã ngựa hay đầu hàng nghĩa quân Lam Sơn.

Dĩ nhiên là để đạt được các chiến thắng vinh quang ấy, quân dân Đại Việt đã có những hy sinh rất lớn. Triều đình nhà Trần phải 3 lần triệt thoái khỏi kinh đô Thăng Long trước khí thế hùng mạnh của quân giặc. Nghĩa quân Lam Sơn cũng từng lâm vào cảnh:

Khi Linh sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi huyện quân không một đội !

Thế nhưng bằng lời thề "Sát Đát", và bằng tinh thần:
Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào,
Khắp tướng sĩ một lòng phụ tử!

Cùng với chiến thuật "lấy yếu chống mạnh" và "lấy ít địch nhiều", quân dân Đại Việt đã có những chiến thắng vang dội ở Hàm Tử Quan, Chương Dương, Vạn Kiếp, Chi Lăng, Đông Đô... để minh chứng thêm tinh thần bất khuất của một dân tộc "vốn xưng nền văn hiến đã lâu" .

Một điều đáng chú ý là năm 2015 này cũng đúng 800 năm ngày sinh của Thành Cát Tư Hãn, đại đế của sắc dân Mông Cổ. Nhiều sử gia thế giới đã nhắc đến nhân vật này, nhưng không người nào nhắc đến các thảm bại của đạo quân Mông Cổ tại VN vào thế kỷ 13. 

Thế nhưng những con dân Việt còn tha thiết đến tiền đồ của dân tộc thì không thể nào quên đươc sự hy sinh to lớn của hai thế hệ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và Bình Định Vương Lê Lợi trong giai đoạn sinh tử của đất nước. Và nếu còn tự hào về truyền thống bất khuất của giống nòi Tiên Rồng, thì đã đến lúc phải đứng lên hét to hai chữ "Sát Thát" và "Quyết chiến" vào mặt lũ giặc Trung Cộng và tập đoàn tay sai bán nước ở Ba Đình!

Chỉ có dũng cảm đứng lên đánh bại hai lũ giặc "ngoại xâm và nội thù", đất nước VN mới có thể thoát khỏi tình trạng băng hoại khắp mọi lãnh vực, kể cả về đạo đức và giáo dục!

Cầu xin các bậc tiền nhân của hai thế hệ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và Bình Định Vương Lê Lợi phù hộ độ trì cho dân tộc Việt sớm có ngày khôi phục được nền tự chủ và an lạc.
 
(chờ 3 hồi chiêng trống)
 
Việt Nam Văn Hiến
Năm thứ 4894
Kính lạy Nhị Vị Tộc Tổ,
Kính lạy Đức Quốc Tổ, 
Kính lạy Đức Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn,
Kính lạy Đức Trung Liệt Hầu Lê Lai,
Kính lạy Đức Bình Định Vương Lê Lợi,

Kính lạy các đấng Minh quân, Văn thần Võ thánh, Anh hùng Liệt nữ và Hồn thiêng Sông núi của Tổ quốc Việt Nam.
Hôm nay Thứ Bảy, ngày 3 tháng 10, năm 2015, nhằm ngày 21 tháng 8 năm Ất Mùi. 

Hiện diện trước bàn thờ Quốc Tổ được thiết lập tại số 187 The Horsley Drive, thành phố Fairfield, tiểu bang New South Wales, nước Úc Đại Lợi. Chúng con thành kính dâng 3 nén hương tưởng niệm công ơn đánh đuổi giặc Nguyên, giặc Minh của đức Đức Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Đức Trung Liệt Hầu Lê Lai, Đức Bình Định Vương Lê Lợi và hai thế hệ Trần - Lê, những anh hùng đã hy sinh xương máu để dựng lại nền tự chủ cho dân tộc Việt
Trong niềm tri ân công đức cao dầy của Chư Liệt Vị và với tấm lòng thành kính, chúng con kính dâng thêm lễ phẩm, cầu mong Chư Liệt Vị hiển linh về thụ hưởng và chứng giám. 

Hôm nay là ngày giỗ của Đức Trung Liệt Hầu Lê Lai, chúng con cúi xin Chư Liệt Vị xá tội cho những đứa con xa xứ, vì hoàn cảnh khó khăn đã gộp cả 3 ngày giỗ lớn vào một buổi lễ tưởng niệm như hôm nay.
 
Kính lạy Đức Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, cùng anh thư, hào kiệt Trần triều.
 
Nhớ khi xưa:
Dòng Đông A xứng danh hào kiệt,
Giống Lạc Hồng trung liệt sáng ngời.
Thuở sinh tiền, lòng tận trung báo quốc,
Lấy hùng tài, đảm lược giữ quê hương.
Đất Phương Nam ba trăm năm lẻ,
Muôn người trên dưới hưởng thái bình.
Văn hiến chung sức giữ gìn,
Binh tinh, tướng giỏi dân tình thăng hoa.
Gặp lúc Bắc Phương nhiễu loạn,
Binh đao khói lửa mịt trời.
Gió ngựa quân Mông, đạp bằng Âu Á,
Diệt Tống lập Nguyên, mộng chiếm phương Nam.
Sát khí mịt mờ quan ải,
Cuồng phong đảo lộn biên cương.
 
May mắn thay:
Có Đại Soái với hùng tâm dũng khí,
Nguyện đầu rơi, hơn hàng giặc xâm lăng.
Hội Bình Than, sĩ khí thấu sao trời,
Hịch Tướng Sĩ, nức lòng quân quyết thắng,
Hội Diên Hồng, muôn dân thề chống giặc. 
Giữ giống nòi, giữ Tổ quốc thiêng liêng.
Về Vạn Kiếp, soạn Binh Thư Yếu Lược,
Quyết dẹp tan mộng bá chủ điên cuồng.
Âm vang Hàm Tử, Chương Dương,
Vân Đồn, Tây Kết còn vương máu thù.
Thời cơ đã đến,
Bên giòng Hoá giang, 

Vung kiếm nguyện thề:
“Sông ơi, ta bảo sông này,
Không phá được giặc ta đây không về.”
Trống trận vang rền,
Cọc nhọn Yết Kiêu,
Chuông vang Dã Tượng,
Bạch Đằng dậy sóng,
Sông Hồng cuồn cuộn máu pha,
Một trang hùng sử ông cha lưu truyền.
Kính lạy Đức Trung Liệt Hầu Lê Lai,
Đức Bình Vương Lê Lợi, cùng anh thư, hào kiệt Lê triều.
 
Nhớ khi xưa:
Cuồng Minh mượn cớ ra quân,
Thêm phường bán nước theo chân giặc thù.
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, 
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.” 
Lòng dân ta thán,
Oán khí ngút trời.
May mắn thay:
Đất Lam Sơn có anh hùng Áo Vải,
Xé lòng đau nhìn nỗi khổ của muôn dân.
Quyết vung gươm tụ nghĩa,
Quyết dành lại giang sơn.
 
Nhưng gặp lúc:
“Tuấn kiệt như sao buổi sớm, 
Nhân tài như lá mùa thu.” 
Thế giặc lớn, khó lòng chống trả,
Chí Linh mấy bận phải lui về.
“Khi Linh sơn lương hết mấy tuần, 
Khi Khôi huyện quân không một lữ.”
Trong tuyệt vọng, có Lê Lai tự nguyện,
Đổi áo bào cứu chúa liều thân. 
Có Nguyễn Trãi dâng Bình Ngô Sách,
Biến nghĩa binh, thành bách thắng đại quân.
Tụy Động, Tây Đô thế quân như thác đổ,
Bồ Đề, Đông Quan, giặc rụng tựa sao sa,
Hai vạn ngựa, mười vạn quân,
Chi Lăng mấy bận đập tan giặc thù.
Kính lạy Chư Liệt Vị,
Nhục nhã thay,
Nước Việt bây giờ,
Bảy mươi năm trong gông cùm giặc Đỏ,
Biến nước thiêng Tiên Rồng, thành mảnh đất tan thương,
Biến con người Văn hiến, thành bầy đàn nô lệ,
Than ôi, một di sản không có người thừa kế.
Khi thái thú bây giờ mang họ Việt,
Uống nước sông Hồng, ăn gạo trắng Cửu Long,
Lại cả gan mang lòng Chiêu Thống,
Bán thác, bán sông, bán rừng,bán biển,
Bán đồng bào, bán tổ quốc cầu vinh.
 
Nay xin nguyện:
Noi gương người trước,
Với tấm lòng thành, 
Xin giúp chúng con,
Sớm tìm được bậc hùng tài đảm lược,
Cùng chung vai cứu lấy một giang sơn.
Xin sớm có một ngày,
Khi non sông qua cơn kiếp nạn,
Cho giống Lạc Hồng lại ngẩng cao đầu.
Cùng nhân loại hát bài ca An Lạc,
Chính là lời ru nghe tự thuở nằm nôi.
Lòng thành khấn nguyện, cúi xin chứng giám. (3 lạy + 3 xá)